Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2014

Thông tin kê toa sản phẩm MONTECEF





MONTECEF
Montelukast 5mg



1.      Thành phần:
-       Mỗi viên nén Montecef chứa 5mg Montelukast Natri
-       Tá dược vừa đủ 1 viên 

2.      Cơ chế tác dụng:
                
                  Leukotriene (trước đây thường được biết với tên gọi SRS-A) là một nhóm các hoạt chất trung gian hoá học có bản chất là các axit béo, được Samuelsson và cộng sự phát hiện vào năm 19791. Đây là sản phẩm của quá trình chuyển hoá axit arachidonic theo con đường 5-Lipoxygenase trên màng của các bạch cầu ái toan, tế bào mast và lympho bào. Qua nhiều nghiên cứu, người ta nhận thấy vai trò hết sức quan trọng của nhóm hoạt chất trung gian này trong cơ chế bệnh sinh của hen phế quản. Theo các nghiên cứu đó, leukotriene được sản xuất rất nhiều ở các bệnh nhân hen phế quản so với người bình thường và khi tác động trên các receptor ở phổi, chúng có thể gây co thắt phế quản và một loạt các phản ứng tiền viêm. Trên cơ sở này, trong thời gian gần đây, các thuốc với tác dụng ức chế quá trình sản xuất hoặc cạnh tranh receptor của leukotriene (gọi tắt là thuốc kháng leukotriene) đã được nghiên cứu thử nghiệm và đưa vào sử dụng trong điều trị hen phế quản.
 
* Tác dụng sinh học của leukotriene
  • Gây co thắt phế quản (mạnh hơn histamine100-10000 lần).
  • Tăng tính phản ứng của cơ trơn phế quản, ví dụ đối với dị nguyên
  • Lôi kéo tế bào viêm, đặc biệt là bạch cầu ái toan.
  • Tăng tính thấm thành mạch (gây phù nề và tắc nghẽn đường hô hấp)
(Nguồn: Dempsey O. J. (2000). Leukotriene receptor antagonist therapy, Postgrad Med J, 76, pp. 767–773. )

Cơ chế tác dụng của Montelukast: cạnh tranh receptor với leukotriene chủ yếu tác động trên receptor Cys-LT1 của leukotriene D4, một receptor quan trọng gây co thắt phế quản. Do cả leukotriene C4 và E4 cũng gắn vàoreceptor này nên Montelukast cũng ngăn chặn được tác dụng của cả leukotrieneC4 và E4.

3.      Chỉ định:
MONTECEF (Montelukast 5mg) được chỉ định trong:
·         Phòng ngừa và điều trị lâu dài bệnh hen suyễn ở người lớn và trẻ em từ 12 tháng tuổi trở lên.
·         Giảm triệu chứng viêm mũi dị ứng (viêm mũi dị ứng theo mùa ở người lớn và trẻ em từ 2 tuổi trở lên và viêm mũi dị ứng quanh năm ở người lớn và trẻ em từ 6 tháng tuổi trở lên).
·         Giảm triệu chứng khó thở ở bệnh nhân bệnh phốc tắc nghẽn mạn tính (COPD) 

4.      Liều lượng và cách dùng:
Cách dùng:
·         Nên uống MONTECEF một lần mỗi ngày. Đối với bệnh hen suyễn, nên uống thuốc vào buổi tối. Đối với bệnh viêm mũi dị ứng, thời gian uống thuốc có thể cá nhân hóa để phù hợp với nhu cầu của từng bệnh nhân. Những bệnh nhân vừa bị hen suyễn vừa bị viêm mũi dị ứng chỉ nên uống 1 viên mỗi ngày vào buổi tối.
Liều dùng:
·         Người lớn và thanh thiếu niên từ 15 tuổi trở lên bị hen suyễn hoặc viêm mũi dị ứng: 10 mg/ngày.
·         Trẻ em 6 - 14 tuổi bị hen suyễn hoặc viêm mũi dị ứng: 5 mg x 1 lần/ngày.

5.      Chống chỉ định:
·         Quá mẫn với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

6.      Lưu ý và thận trọng:
·         Co thắt phế quản trong cơn hen suyễn cấp.
·         Nên khuyên bệnh nhân có sẵn thuốc cứu nguy thích hợp. Có thể tiếp tục điều trị bằng montelukast trong lúc cơn hen suyễn cấp trầm trọng.
·         Trong khi có thể giảm liều corticosteroid dạng xịt từ từ dưới sự giám sát y tế, không nên dùng montelukast thay thế đột ngột cho corticosteroid dạng xịt hoặc dạng uống.
·         Không nên dùng montelukast như một liệu pháp đơn trị để điều trị và kiểm soát sự co thắt phế quản do hoạt động. Những bệnh nhân bị hen suyễn nặng thêm sau khi hoạt động nên tiếp tục chế độ điều trị thường dùng với các thuốc chủ vận b dạng xịt để phòng ngừa và có thể dùng thuốc chủ vận b dạng xịt có tác động ngắn để cứu nguy.
·         Những bệnh nhân nhạy cảm với aspirin nên tránh tiếp tục dùng aspirin hoặc các thuốc kháng viêm không steroid trong khi dùng montelukast. Mặc dù montelukast có hiệu lực trong việc cải thiện chức năng đường hô hấp ở những người bị hen suyễn nhạy cảm với aspirin, nhưng chưa chứng tỏ loại bỏ được đáp ứng gây co phế quản do aspirin và các thuốc kháng viêm không steroid khác ở những bệnh nhân hen suyễn nhạy cảm với aspirin.
·         Những bệnh nhân có vấn đề về di truyền hiếm gặp không dung nạp galactose, thiếu men Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose.

Phụ nữ có thai và cho con bú:
Phụ nữ có thai:
·         Chưa có các nghiên cứu đầy đủ và được kiểm soát tốt ở phụ nữ có thai. Do các nghiên cứu về sự sinh sản ở thú không luôn luôn dự đoán được đáp ứng ở người, chỉ nên dùng montelukast nếu thật sự cần thiết.
Phụ nữ cho con bú:
·         Chưa biết montelukast có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Do nhiều thuốc được bài tiết vào sữa mẹ, nên thận trọng khi dùng montelukast ở người mẹ đang cho con bú.

Thuốc kháng leukotriene trong điều trị hen phế quản



Thuốc kháng leukotriene trong điều trị hen phế quản
Ths Bs. Nguyễn Hữu Trường
(Trung tâm Dị ứng – Miễn dịch Lâm sàng BV Bạch mai)

TÓM TẮT

Nhiều nghiên cứu đã khẳng định vai trò trung tâm của leukotriene trong cơ chế bệnh sinh của hen phế quản và các bệnh dị ứng. Kháng leukotriene là một nhóm thuốc mới được đưa vào sử dụng để điều trị hen phế quản trong thời gian gần đây, tác động ức chế của nhóm thuốc này trên các receptor hoặc quá trình tổng hợp leukotriene đem lại cả hiệu quả giãn phế quản và chống viêm. Các thuốc kháng leukotriene đã chứng minh được hiệu quả trong điều trị các trường hợp hen mức độ nhẹ và trung bình. Sự ra đời của các thuốc kháng leukotriene được coi là một tiến bộ quan trọng trong điều trị dược lý đối với hen phế quản, mặc dù hiệu quả của nhóm thuốc này vẫn còn nhiều tranh cãi.

Trong những năm gần đây, nhiều điểm mới trong cơ chế bệnh sinh của hen phế quản đã được làm sáng tỏ, trong đó, vai trò của yếu tố viêm mạn tính niêm mạc đường hô hấp với sự tham gia của nhiều loại tế bào và các hoạt chất trung gian được đặc biệt nhấn mạnh.

Leukotriene (trước đây thường được biết với tên gọi SRS-A) là một nhóm các hoạt chất trung gian hoá học có bản chất là các axit béo, được Samuelsson và cộng sự phát hiện vào năm 19791. Đây là sản phẩm của quá trình chuyển hoá axit arachidonic theo con đường 5-Lipoxygenase trên màng của các bạch cầu ái toan, tế bào mast và lympho bào. Qua nhiều nghiên cứu, người ta nhận thấy vai trò hết sức quan trọng của nhóm hoạt chất trung gian này trong cơ chế bệnh sinh của hen phế quản. Theo các nghiên cứu đó, leukotriene được sản xuất rất nhiều ở các bệnh nhân hen phế quản so với người bình thường và khi tác động trên các receptor ở phổi, chúng có thể gây co thắt phế quản và một loạt các phản ứng tiền viêm. Trên cơ sở này, trong thời gian gần đây, các thuốc với tác dụng ức chế quá trình sản xuất hoặc cạnh tranh receptor của leukotriene (gọi tắt là thuốc kháng leukotriene) đã được nghiên cứu thử nghiệm và đưa vào sử dụng trong điều trị hen phế quản.

Bảng 1: Tác dụng sinh học của leukotriene4
  • Gây co thắt phế quản (mạnh hơn histamine100-10000 lần).
  • Tăng tính phản ứng của cơ trơn phế quản, ví dụ đối với dị nguyên
  • Lôi kéo tế bào viêm, đặc biệt là bạch cầu ái toan.
  • Tăng tính thấm thành mạch (gây phù nề và tắc nghẽn đường

CÁC THUỐC KHÁNG LEUKOTRIENE

Có 2 cách tiếp cận nhằm giảm bớt các hoạt tính của các leukotriene là ức chế sự tổng hợp leukotriene hoặc cạnh tranh vị trí của chúng trên các receptor tế bào. Các thuốc ức chế tổng hợp leukotriene có thể được chia là 2 nhóm dựa vào vị trí tác động: nhóm ức chế enzyme 5-Lipoxygenase gắn vào vị trí hoạt động của enzyme này và nhóm phong bế protein hoạt hoá 5-Lipoxygenase, cả 2 nhóm thuốc này đều ức chế được sự tổng hợp của 4 loại leukotrieneB4, C4, D4và E4. Ngoại trừ Zileuton, hầu hết các thuốc khác trong nhóm này vẫn đang nằm trong nghiên cứu và chưa đưa ra thị trường.

Các thuốc ức chế cạnh tranh receptor với leukotriene chủ yếu tác động trên receptor Cys-LT1 của leukotriene D4, một receptor quan trọng gây co thắt phế quản. Do cả leukotriene C4 và E4 cũng gắn vàoreceptor này nên các thuốc ức chế cạnh tranh với leukotriene D4 cũng ngăn chặn được tác dụng của cả leukotrieneC4 và E4. Một số thuốc trong nhóm này đã qua nghiên cứu và được chấp nhận sử dụng trong điều trị hen như zafirlukast,pranlukast và montelukast.

Bảng 2: Các thuốc kháng leukotriene
Cạnh tranh receptor leukotriene D4
Phong bế Protein hoạt hoá 5-Lipoxygenase
Ức chế 5-Lipoxygenase
Tomelukast
Verlukast
Motelukast
Zafirlukast
Pobilukast
Pranlukast
MK-886
MK-0591
BAY X1005
Zileuton (A 64077)
ZD 2138
A-79175

VAI TRÒ CỦA THUỐC KHÁNG LEUKOTRIENE TRONG ĐIỀU TRỊ HEN PHẾ QUẢN:

Một số vấn đề được cân nhắc khi đánh giá vai trò của các thuốc kháng leukotriene đối với hen phế quản: 1/ Thuốc có kiềm chế được sự tiến triển của bệnh? 2/ Thuốc có tác dụng chủ yếu là giãn phế quản, chống viêm hay cả hai? 3/ Hiệu quả của thuốc như thế nào khi so sánh với các thuốc điều trị hen khác?
Về câu hỏi đầu tiên, một số nghiên cứu mù đôi có đối chứng cho thấy, zileuton giảm số đợt cấp của hen khoảng 50% trong 13 tuần sử dụng khi so với giả dược, bên cạnh đó, cả zafirlukast và zileutonđều giảm được số lần thức giấc về đêm, nhu cầu sử dụng thuốc cắt cơn và các triệu chứng hen khi so với giả dược1,6. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các thuốc kháng leukotriene sử dụng kéo dài đem lại sự cải thiện rõ rệt và bền vững về chỉ số FEV1. Những kết quả này cho thấy thuốc kháng leukotriene có thể góp phần giảm mức độ bệnh và làm chậm sự tiến triển của hen phế quản3.

Về câu hỏi thứ 2, với tác dụng ức chế hoạt tính của leukotriene, các thuốc kháng leukotriene có hiệu quả trên cả trương lực đường thở và quá trình viêm mạn tính ở đây. Hiệu quả giãn phế quản của nhóm thuốc này mặc dù không nhanh và mạnh như các thuốc cường bêta 2 giao cảm, nhưng sự phối hợp 2 thuốc trên đem lại hiệu quả giãn phế quản tốt hơn từng thuốc đơn lẻ. Bên cạnh đó, nhiều trường hợp co thắt phế quản trơ với các thuốc cường bêta 2 vẫn đáp ứng tốt với thuốc kháng leukotriene. Những kết quả này cho thấy, thuốc kháng leukotriene có thể tác động đến phần tắc nghẽn độc lập với phần tác động của các thuốc cường bêta 2 6.
Nhằm so sánh hiệu quả của thuốc kháng leukotriene với các thuốc điều trị hen khác, kết quả của một số nghiên cứu chỉ ra rằng, Pranlukast 300 - 450 mg dùng 2 lần mỗi ngày đem lại hiệu quả kiểm soát hen tương đương với beclomethasone 84 àg 4 lần mỗi ngày, ngoài ra, zileuton hoặc montelukast khi phối hợp với liều thấp glucocorticoid đường hít đem lại hiệu quả tương đương với liều cao của glucocorticoid đường hít nhưng ít tác dụng phụ hơn 2,3.

TÍNH AN TOÀN CỦA THUỐC KHÁNG LEUKOTRIENE

Mặc dù các nghiên cứu về mức độ an toàn của thuốc kháng leukotriene vẫn đang được tiến hành nhưng hầu hết các tác dụng phụ đựoc ghi nhận đều ở mức độ nhẹ và thoáng qua như đau đầu, rối loạn tiêu hoá, đau họng (zafirlukast),nổi ban đỏ, tăng men gan thoáng qua (zileuton). Khi được dùng ở liều điều trị, các tác dụng phụ này chỉ gặp trong khoảng 2- 4% số người sử dụng. Ngoài ra, các nghiên cứu sử dụng pranlukast và montelukast kéo dài trong ít nhất 1 năm cũng không nhận thấy có hiện tượng nhờn thuốc2,3,5.
Gần đây, một số báo cáo ghi nhận sự xuất hiện của Hội chứng Churg- Strauss (một bệnh lý viêm mạch hệ thống hiếm gặp) sau dùng zafirlukast phối hợp với glucocorticoid đường uống giảm dần liều, nhưng cơ chế còn chưa được hiểu rõ. Để ngăn ngừa kịp thời tai biến này, các bệnh nhân đang sử dụng zafirlukast cần được theo dõi chặt chẽ để phát hiện các triệu chứng sớm của Hội chứng Churg- Strauss như sốt, đau cơ, đau đầu, giảm cân1,7.

CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ CỦA THUỐC KHÁNG LEUKOTRIENE TRONG HEN PHẾ QUẢN

Gần đây, hai loại thuốc kháng leukotriene là zileuton và zafirlukast đã được Cục quản lý dược và thực phẩm Mỹ (FDA) cho phép sử dụng trong dự phòng và điều trị hen phế quản ở người lớn và trẻ em ³ 12 tuổi. Theo kết quả của  những nghiên cứu gần đây về hiệu quả của các thuốc kháng leukotriene đối với hen phế quản, nhóm thuốc này nên được ưu tiên sử dụng để điều trị hen mạn tính trong các tình huống sau: (1) Những bệnh nhân hen mức độ nhẹ hoặc trung bình không đáp ứng với glucocorticoid đường hít. (2) Dùng phối hợp để giảm liều glucocorticoid đường hít ở các bệnh nhân hen trung bình hoặc nặng không dung nạp được hoặc có chống chỉ định với glucocorticoid đường hít liều cao. (3) Những bệnh nhân gặp khó khăn khi sử dụng bình xịt glucocorticoid (4) Những bệnh nhân hen nặng không đáp ứng với glucocorticoid đường hít đơn thuần nhưng không dung nạp được với các thuốc phối hợp khác như theophyllin phóng thích chậm hoặc cường bêta 2 kéo dài. Có những nhóm bệnh nhân đáp ứng khá nhanh với điều trị kháng leukotriene (trong vòng 2 tuần đầu), trong khi đó có những bệnh nhân phải mất 6-8 tuần mới thấy được hiệu quả của thuốc. Theo dõi lưu lượng đỉnh và ghi nhật ký triệu chứng tại nhà là phương pháp tốt nhất để đánh giá hiệu quả của thuốc.
Ngoài những tình huống ưu tiên lựa chọn ở trên, một số nhóm đặc biệt của hen phế quản cũng thu được nhiều lợi ích từ điều trị kháng leukotriene. Hen nhạy cảm với aspirin là một ví dụ điển hình, rất nhiều bệnh nhân hen không dung nạp aspirin khi được điều trị với các thuốc kháng leukotriene đã có thể sử dụng một cách an toàn aspirin các thuốc chống viêm không steroid trong điều trị các bệnh lý như viêm khớp4. Tương tự, điều trị kháng leukotriene có thể dự phòng được các cơn hen do gắng sức, kể cả những trường hợp không dự phòng được bằng cromonyl hoặc thuốc cường bêta 2, hiệu quả bảo vệ này có thể kéo dài 20 – 24 giờ sau dùng thuốc5. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy, các trường hợp hen liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt cũng thường đáp ứng tốt với điều trị này4.




TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1.     Holgate S. T., Bradding P., Sampson A. P. (1996). Leukotriene antagonists and synthesis inhibitors: New directions in asthma therapy, J Allergy Clin Immunol, 98, 1, pp. 1-13.
2.     DempseyO. J., Kennedy G., Lipworth B. J. (2002). Comparative efficacy and antiinflammatory profile of once-daily therapy with leukotriene antagonist or low-dose inhaled corticosteroid in patients with mild persistent asthma, J Allergy Clin Immunol, 109, 1, pp. 68-74.
3.     Diahn-Warng P., Han-Yu H., Yu-Chin L., Reury-Perng P. (2004).Leukotriene Modifier vs Inhaled Corticosteroid in Mild-to-Moderate Asthma, Chest, 125, 5, pp. 1693–1699.
4.     Dempsey O. J. (2000). Leukotriene receptor antagonist therapy, Postgrad Med J, 76, pp. 767–773.
5.     Peters S. P. (2003). Leukotriene receptor antagonists in asthma therapy, J Allergy Clin Immunol, 111, pp. S62-70.
6.     Marcos G., Schuster A. (1999). New perspectives for asthma treatment: Anti-leukotriene drugs, Pediatr Allergy Immunol, 10, pp. 77- 88.
7.     Salvi S. S., Krishna M. T., Sampson A. P., Holgate S. T. (2001).The Anti-inflammatory Effects of Leukotriene-Modifying Drugs and Their Use in Asthma, Chest, 119, 5, pp. 1533–1546.

Thuốc mới trong điều trị các bệnh dị ứng



Thuốc mới trong điều trị các bệnh dị ứng


Phản ứng viêm dị ứng với sự giải phóng của các hoạt chất trung gian là cơ chế gây bệnh chủ yếu của hầu hết các bệnh dị ứng, do đó, các thuốc chống dị ứng hiện nay đều được phát triển theo hướng tác dụng ức chế phản ứng viêm dị ứng hoặc kháng lại các hoạt chất trung gian, giúp giảm các triệu chứng dị ứng cấp tính. Hiện nay, nhiều nhóm thuốc chống dị ứng mới được đưa vào sử dụng rộng rãi, một số khác vẫn đang trong quá trình nghiên cứu thử nghiệm.

Các thuốc kháng histamin:

Vai trò quan trọng của histamin và thụ thể histamin H1 trong các bệnh dị ứng được hiểu biết ngày càng đầy đủ. Các loại thuốc kháng histamin H1 thế hệ mới ra đời ngày càng nhiều với mục đích tăng cường độ đặc hiệu và hiệu quả điều trị cũng như giảm thiểu khả năng tương tác thuốc, các tác dụng có hại của thuốc, đặc biệt là tác dụng có hại trên tim và hệ thần kinh trung ương. Hai loại thuốc kháng H1 thế hệ 2 được chứng minh có nguy cơ gây độc trên tim là astemisole và terfenadin, hiện đã bị ngưng sử dụng ở hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Hầu hết các thuốc kháng H1 thế hệ 2 như loratadin, cetirizin, fexofenadin, levocetirizin, desloratadin... đều ít ngấm qua hàng rào máu não nên ít hoặc không gây buồn ngủ cho người sử dụng.
 
Do đó, các thuốc này hiện được ưa thích sử dụng hơn so với các dẫn xuất thế hệ 1 nhiều khả năng gây buồn ngủ. Bên cạnh đó, xu thế sử dụng các loại kháng H1 mới là sản phẩm chuyển hóa có hoạt tính của các dẫn xuất cũ (như levocetirizin, desloratadin, fexofenadin), cũng đang trở nên phổ biến trong thời gian gần đây, do các thuốc này có nhiều ưu điểm như khởi phát tác dụng nhanh, ít nguy cơ gây tương tác thuốc và ít tác dụng phụ hơn so với các chế phẩm gốc.

Các thuốc kháng Leukotrien:

Leukotrien là một nhóm các hoạt chất trung gian có vai trò không nhỏ trong các phản ứng viêm dị ứng và có thể trực tiếp gây ra nhiều triệu chứng dị ứng như co thắt cơ trơn phế quản, tăng tiết dịch nhày, giãn mạch... Những hiểu biết ngày càng tăng về vai trò của leukotrien và các loại thụ thể trong phản ứng dị ứng trong khoảng 2 thập kỷ gần đây đã đặt nền tảng cho sự ra đời của khá nhiều loại thuốc kháng leukotrien như montelukast, zafirlukast, zileuton... Các nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả và tính an toàn của các thuốc này trong điều trị các bệnh dị ứng như hen phế quản, viêm mũi dị ứng, mày đay mạn tính..., đặc biệt ở trẻ em. Khoa học hiện đại đang nghiên cứu thêm về vai trò của thuốc kháng leukotrien trong điều trị các bệnh dị ứng khác như chàm, viêm xoang dị ứng... với hy vọng mở rộng diện chỉ định của những thuốc này.

Thuốc kháng IgE:

Kháng thể IgE có vai trò hết sức quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của hen phế quản và nhiều bệnh lý dị ứng khác. Sự kết hợp của kháng thể này với kháng nguyên gây bệnh đã khởi động dòng thác viêm dị ứng và gây ra các phản ứng dị ứng muộn. Các thuốc kháng IgE tổng hợp như omalizumab có khả năng liên kết và bất hoạt các kháng thể IgE tự do, gây giảm nồng độ kháng thể IgE tự do trong máu tới 90%. Nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng minh omalizumab có hiệu quả tốt trong điều trị các trường hợp hen phế quản nặng, không đáp ứng với các thuốc điều trị khác.

Các thuốc kháng Thromboxane A2:

Do có một số bằng chứng về vai trò của thromboxane A2 trong đợt cấp và quá trình phát triển của các bệnh dị ứng nên các nhà khoa học đã có ý tưởng sử dụng các chất kháng lại loại hoạt chất này trong điều trị các bệnh dị ứng. Hiện nay, các thuốc kháng thromboxane A2 như ozagrel, ramatroban và seratrodust đã được chứng minh được hiệu quả rõ rệt trong điều trị các triệu chứng viêm mũi dị ứng, nhưng hiệu quả trong điều trị hen phế quản còn chưa được khẳng định.

Thuốc kháng cytokin của tế bào lympho Th2:

Các bằng chứng khoa học hiện nay cho thấy, phản ứng dị ứng được khởi phát bởi các tế bào lympho Th2 đặc hiệu kháng nguyên. Điều này đã đưa đến khả năng kiểm soát các bệnh dị ứng bằng cách ức chế các cytokin của tế bào Th2. Suplatast, một chất kháng Th2 cytokin, đã được chứng minh có khả năng ức chế sản xuất các kháng thể dị ứng IgE, giảm số lượng bạch cầu ái toan (một loại tế bào quan trọng trong các phản ứng dị ứng), ngăn ngừa sự xuất hiện các đợt dị ứng cấp tính ở chuột và các bệnh hen phế quản và viêm da dị ứng. Người ta vẫn tiếp tục nghiên cứu sử dụng các thuốc này trong thực tiễn. Đây là một hướng đi có nhiều hứa hẹn.

Một số thuốc trong tương lai:

Hiện nay, có rất nhiều hướng đi mới trong điều trị các bệnh dị ứng đã được mở ra như dùng các chất ức chế tryptase, elastase, kimase, ức chế miễn dịch thông qua tế bào lympho T, kháng lại các cytokin như TNF, IL-4, IL-5, IL-13, IL-10, IL-12, IL-18, IFN g hoặc các thụ thể của chúng như IL-8 receptor hoặc kháng lại các phân tử kết dính mạch máu... Các thuốc này hiện vẫn đang trong quá trình thử nghiệm trên động vật và có thể sẽ là những hướng đi hứa hẹn nhiều triển vọng trong tương lai.

 Theo SK&ĐS